TỔNG HỢP CÁC BÀI VĂN MẪU HAY NHẤT VỀ TÁC PHẨM NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY

PHÂN TÍCH TRUYỆN NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY

Bài làm

     Truyện cười dân gian Việt Nam ra đời cùng lúc với những câu ca dao tục ngữ, được lưu truyền qua những cuộc trò truyện giải trí. Những mẩu truyện cười dân gian như món ăn tinh thần mang lại tiếng cười giòn giã mà không kém phần sâu xa với người nông dân. Truyện cười: “Nhưng nó phải bằng hai mày” kể lại câu chuyện hài kịch xử kiện thắng thua của Cải với Ngô với người xử kiện là Lý trưởng.

Truyện được tạo ra như một màn kịch nhỏ với sự xuất hiện của ba đối tượng gây cười: Lí trưởng, Cải và Ngô. Sự việc được kể rất ngắn gọn: Cải với Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải sợ kém thế, lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá những mười đồng và thầy lí cho Ngô thắng, còn Cải bị đánh mười roi. Khi Cải thắc mắc, thầy lí xoè bàn tay và nói: “Nhưng nó phải bằng hai mày”. Truyện kết thúc ở đó và để lại nhiều tiếng cười thâm thuý.

Tiếng cười ấy có lẽ được bật lên từ mâu thuẫn gây cười mà tác giả dân gian tạo ra. Cải và Ngô đi kiện nhưng lại sợ bị thua mà đút lót cho lí trưởng. Viên lí trưởng được nói: “Xử kiện giỏi” mà phán người nhiều tiền hơn thắng. Mâu thuẫn trái ngang giữa những nhân vật tạo cho người đọc tiếng cười vui vẻ.

Tình huống được tạo ra cũng hết sức hợp lý, tài tình. Cải và Ngô đánh nhau, cả hai cùng đi kiện. Khi đi kiện, cách ứng xử của hai người giống nhau, đều đút lót. Cải lót Năm đồng, Ngô biện chè Mười đồng. Chính cách ứng xử này bộc lộ rõ bản chất của cả hai. Có gan đi kiện nhưng không dám đối chứng công bằng, không trung thực. Đây cũng là hiện trạng bấy giờ của nhiều người nông dân lao động. Tác giả dân gian qua Cải và Ngô để thấy được bản chất tính cách không trung thực của bộ phận không nhỏ người nông dân thời đó.

Khi thầy lí xử kiện, phán Cải thua, phạt mười roi, ngay tức thì nhân vật có phản ứng và ứng xử. Cải biện minh xoè năm ngón tay. Thầy Lí xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay phải và nói: “Tao biết. Nhưng nó phải bằng hai mày”. Ngay tại hành động và lời nói của thầy lí đã đẩy kịch tính của truyện lên cao trào và đồng thời mở nút thắt, làm bật lên tiếng cười sảng khoái. Cũng chính tại đây, bản chất được bộn lộ. Cải thì nhắc khéo, gian lận còn ông Lí được nói là sự kiện giỏi kia thì tham nhũng, bị đồng tiền mua chuộc. Đến đây người đọc không chỉ cười mà còn thấy bất bình thay. Hoá ra xã hội phụ thuộc vào đồng tiền. Quan lại thời đó tham nhũng, bị mua chuộc bởi đồng tiền mà chẳng biết phân biệt đúng sai, xử thắng thua dựa vào giá trị đồng tiền.

Truyện cười: “Nhưng nó phải bằng hai mày” tạo nên tiếng cười sảng khoái bởi những mâu thuẫn mà tự nhân vật tạo ra. Xã hội phong kiến với những mâu thuẫn sâu sắc về giai cấp khiến cho truyện cười được ra đời tự nhiên để không chỉ là tiếng cười giải trí mà còn là lời phê bình, lên án sâu sắc tầng lớp giai cấp trong xã hội để với ước muốn cải tạo xã hội tốt đẹp. Đúng như quy luật, đặc điểm của truyện cười, “Nhưng nó phải bằng hai mày” với kết cấu ngắn gọn, súc tích, giàu kịch tính ngôn ngữ lời nói, ngôn ngữ cử chỉ đa dạng không chỉ đem lại tiếng cười sảng khoái mà đồng thời lên án những thói hư tật xấu, tham nhũng của quan lại, phê phán người nông dân tự mình đẩy mình vào tình huống bi hài.

Qua truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày” tác giả dân gian với những tình tiết đơn giản đã để lại cho người nghe, người đọc tiếng cười và những cái nhìn mới về xã hội phong kiến Việt Nam một thời.

SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ THAM NHŨNG QUA TRUYỆN CƯỜI NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY

Bài làm

Đọc tiếp  BÀI VIẾT CHI TIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 2

     Truyện cười là thể loại truyện rất phong phú và có vài trò to lớn trong văn học dân gian Việt Nam nói riêng và trong văn học Việt Nam nói chung, dường như mỗi câu chuyện đem đến cho người đọc những tiếng cười với những cung bậc khác nhau: tiếng cười hài hước, dí dỏm, tiếng cười mỉa mai, châm biếm, đả kích, có cả tiếng cười phê phán lật tẩy… “Nhưng nó phải bằng hai mày” là tiếng cười như một đòn roi đối với nạn tham nhũng trong việc xử kiện của bọn quan lại trong xã hội phong kiến suy tàn.

Câu chuyện kể về việc hai người nông dân là Cải và Ngô đánh nhau rồi cùng nhau đi kiện. Cải sợ kém thế lót trước năm đồng, Ngò lo lót mười đồng. Khi xứ kiện thầy lí xử nhẹ cả hai, vẫn phạt Cải chục roi. Cải xòe năm ngón tay ngụ ý nhắc thầy lí số tiền đã lo lót. Nhưng thầy lí lấy năm ngón tay của bàn tay trái úp lên mặt của bàn tay phải, ám hiệu số quan tiền Ngò đã lo lót lớn gấp đôi. Hài hước nhất là thầy lí còn nói: “Tao biết mày phải, nhưng nó phải bằng hai mày”.

Câu chuyện đã vẽ ra một tình huống xử kiện thật buồn cười, từ lời nói cho đến hành động của cả quan và kẻ bị xét xử, nhưng nó thực chân thực trong cái xã hội bấy giờ. Mang danh là quan mang lại sự bình ổn cho dân, vậy mà thầy lí lại tiếp tay, trắng trợn nhận lấy tiền hối lộ của dân. Luôn nhân cơ hội dân gặp bức bách mà thừa nước lấn tới, vơ vét của dân. Cải và Ngô là hai nạn nhân vừa đáng thương mà cũng vừa đáng giận vì đã tiếp tay cho kẻ tham nhũng. Cả hai chỉ vì muốn bị phạt ít hơn nên đã đành đút lót, dẫu vậy hình phạt roi vẫn còn, chỉ là kẻ nào nhiều tiền hơn thì bị phạt ít hơn.

Tiếng cười từ câu chuyện là tiếng cười châm biếm cho những kẻ tham lam, tham quan hối lộ. Chính cách chơi chữ trong truyện đã tạo ra tiếng cười sắc nhọn tát thẳng vào bọn quan. Tiền bạc chính là thứ đo nhân cách của bọn quan, là thứ có thể bóp méo được sự thật. Qua đó, ta có thể thấy được bộ mặt giả danh, giả nhân giả nghĩa của thầy lí nói riêng của bọn quan lại nói chung. Đây là một cuộc chiến gian nan, trường kì và vô cùng phức tạp, đòi hỏi tất cả mọi người, từ thầy lí đến Cải và Ngô, từ lãnh đạo đến nhân dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

Hơn bao giờ hết, nhân dân ta đều đã hiểu rằng, nếu không đẩy lùi được nạn tham nhũng thì chẳng những kinh tế đất nước không thoát được khỏi đói nghèo, mà lẽ phải, sự thật, công lí đều bị bóng đen của đồng tiền bao phủ. Là học sinh, chúng ta cũng phải sớm có ý thức chống tham nhũng, xây dựng xã hội Việt Nam trong sạch và văn minh.

PHÂN TÍCH HAI TÁC PHẨM TAM ĐẠI CON GÀ VÀ NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY ĐỂ LÀM RÕ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN CƯỜI

Bài làm

     Trong các thể loại văn học dân gian, truyện cười tuy ngắn gọn nhất nhưng không phải vì ít lời, ít chuyện mà sức hấp dẫn của nó kém đi. Bằng những đặc trưng cơ bản của thể loại mình, bao nhiêu năm qua, mỗi câu chuyện cười đã luôn mang đến người nghe, người đọc nhiều điều lý thú. Vũ khí, sức mạnh của mỗi câu chuyện cười tất nhiên là ở cái cười, nhưng cái cười ấy cất lên từ đâu? Trả lời câu hỏi này, chúng ta phải xuất phát từ đặc trưng của thể loại truyện. Ta cùng tìm hiểu hai truyện cười Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày để thấy rõ đặc trưng của thể loại này.

Đặc trưng thứ nhất của thể loại truyện cười nằm trong chính cách xây dựng tình huống truyện. Thực ra, xây dựng tình huống không phải là độc quyền của những người sáng tạo nên truyện cười. Truyền thuyết, truyện cổ tích cũng – xây dựng những tình huống nghệ thuật. Tuy nhiên, tình huống trong truyện cười luôn là những tình huống mâu thuẫn. Truyện bao giờ cũng đặt “cái đáng cười” vào một tình huống để nó tự điền tiến tự nhiên, nhanh chóng đi đến chỗ gay cấn rồi kết thúc bất ngờ.

Đọc tiếp  PHÂN TÍCH NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY

Trong Tam đại con gà, tác giả dân gian đã xây dựng nên hai tình huống truyện. Thứ nhất, gặp chữ “” trong sách Tam thiên tự, thầy đồ không đọc được, học trò lại hỏi gấp. Tình huống thứ hai: bố của học trò thấy thầy đọc sai, vào hỏi thầy. Cả hai tình huống này trước tiên thể hiện sự dốt nát của anh thầy đồ. Nhưng quan trọng hơn, người kể chuyện muốn hướng chúng ta tới cách giải quyết vấn đề của thầy đồ. Trước tình huống khó xử, thầy đã suy nghĩ và tìm ra được cách giải quyết cho mình: Nhân trong nhà có bàn thờ thổ công, thầy mới đèn khẩn thầm xin ba đài âm dương để xem chữ ấy có phải thật là “dù dì” không. Nhưng khi sự dốt nát bị lộ tẩy, thầy nghĩ: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”. Điều này chứng tỏ thầy đồ đã nhận thức được sự dốt nát của mình. Tuy nhiên, thói đời “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”, thầy đồ trong câu chuyện không “giải nghệ”, mà vẫn tiếp tục dạy học trò đọc sai con chữ. Trong tình huống thứ nhất, khi học trò hỏi gấp, thầy đã đọc chữ “” là chữ “dù dì”. Và ở tình huống thứ hai, khi bố học trò chạy vào hỏi, thầy đã chống chế: “Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà!”. Mục đích mọi sự chống chế của thầy là để giấu dốt. Nó ngược hẳn với sự tự nhận thức của thầy ở trên. Chính mâu thuẫn trái tự nhiên này đã tạo ra tiếng cười cho người đọc, người nghe câu chuyện.

Như Tam đại con gà, truyện Nhưng nó phải bằng hai mày cũng xây dựng tình huống truyện khá độc đáo, đã là tình huống xử kiện. Tình huống của truyện cười này được dựng lên từ hai mâu thuẫn trong truyện: lý trưởng nổi tiếng xử kiện; Ngô và Cải đều đút lót trước cho thầy lí. Người nghe, người đọc bị cuốn vào sự tò mò: Lí trưởng giỏi xử kiện sẽ xử thế nào trong tình huống đã nhận đút lót từ hai phía. Sức hấp dẫn của truyện cũng nằm trong chính điều đó.

Tình huống xử kiện diễn ra hết sức nhanh chóng và bất ngờ. Nhanh chóng vì ngay khi thăng đường, thầy đã tuyên phạt kẻ sai trái và nghị án ngay lập tức. Thầy lý xử thằng Cải thua kiện, phải chịu một chục roi. Bất ngờ vì thầy lý xử án mà không hề tra hỏi, đâu tố, không cần nhân chứng, vật chứng… Cái bất ngờ còn nằm ở việc Cải đã đút lót thầy lý năm đồng mà vẫn bị đánh. Nhưng thầy lý lại có lí khi xử kiện như vậy. Lý do Cải thua cuộc đã được hé mở trong câu nói của thầy ở cuối truyện: “Nhưng nó lại phải… bằng hai mày”. Thì ra thầy lý xử kiện không dựa trên lẽ công bằng mà lại dựa trên số lượng tiền đút lót nhiều hay ít.

Nét đặc trưng thứ hai của thể loại truyện cười là tính kịch, yếu tố kịch. Mỗi truyện như một màn kịch nhỏ xoay quanh mâu thuẫn gây cười. Trong Tam đại con gà, yếu tố kịch nằm ở chi tiết thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò hồi gấp và chi tiết bố học trò đang cuốc đất ngoài vườn, nghe thầy dạy sai, bỏ cuốc chạy vào. Sự dốt nát của thầy đã bị thử thách bởi học trò và người nông dân. Nếu học trò không hỏi gấp và bố học trò không thắc mắc, có lẽ sự dốt nát ấy còn được trì hoãn và giấu kín. Nhưng chính những kịch tính này đã thúc đẩy câu chuyện phát triển, xúc tác cho tình huống truyện diễn ra nhanh chóng, mang đến tiếng cười cho truyện.

Ở truyện Nhưng nó phải bằng hai mày, kịch tính được thể hiện qua lời nói và động tác giữa hai nhân vật. Cái yên tâm sẽ được kiện, nhưng hành động xử kiện của thầy lý thật bất ngờ, cách giải thích của thầy lý cũng bất ngờ khiến Cải không kịp trở tay, rơi vào tình trạng bi hài, “tiền mất, tật mang”.

Chúng ta nhận diện truyện cười không chỉ ở tình huống truyện và yếu tố kịch mà còn ở nét đặc tnmg ngắn gọn, gói kín, mở nhanh, không thừa lời, thừa chi tiết, nhân vật. Điều này cũng dễ dàng được nhận thấy qua hai câu chuyện.

Đọc tiếp  TỔNG HỢP CÁC BÀI VĂN MẪU HAY NHẤT VỀ TÁC PHẨM TAM ĐẠI CON GÀ

Tình huống mâu thuẫn, yếu tố kịch, và hình thức mini đã góp phần thể hiện thành công mục đích phê phán của truyện. Qua mỗi câu chuyện, những vị thầy đáng kính của chúng ta đều đã bị hạ bệ nhanh chóng. Đó cũng chính là những đặc trưng nổi bật mang đến người đọc, người nghe ấn tượng về một thể loại văn học dân gian.

CẢM NHẬN VỀ TRUYỆN CƯỜI NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY

Bài làm

       Truyện trào phúng thường mượn tiếng cười để phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội. “Nhưng nó phải bằng hai mày” miêu tả cuộc xử kiện của Lí trưởng với Ngô và Cải, qua đó phê phán thói ăn hối lộ của những người làm trong bộ máy chính quyền. Tiếng cười của truyện vì thế càng sâu cay, thấm thía hơn bao giờ hết.

Tác giả dân gian mở đầu truyện bằng việc giới thiệu nhân vật lí trưởng, đó là người đại diện thực thi pháp luật và “nổi tiếng vì xử kiện giỏi”. Cải là người lao động nghèo được phân xử trong vụ kiện với Ngô, lo lót hối lộ cho lí trưởng mong thắng kiện. Mâu thuẫn truyện đã bắt đầu dồn nén khi lí trưởng nhận tiền của cả hai người, lúc này người đọc mong đợi người được cho là “xử kiện giỏi” sẽ xử trí ra sao. Thế nhưng, cách xử lí của thầy lí lại khiến chúng ta hoàn toàn bất ngờ, ông không hỏi cung, không điều tra phân tích mà kết án và đưa ra phán quyết chắc nịch: phạt đánh Cải chục roi. Từ một người chủ động dàn xếp và chắc chắn sẽ được xử thắng kiện, Cải bỗng rơi vào tình huống bị động và bị xử thua.

Lúc này, màn kịch giữa Cải và Lí trưởng diễn ra có sự kết hợp giữa hành động và ý ngầm ẩn. Tưởng thầy Lí quên, Cải vội tìm cách xin xét lại và ra dấu bằng hành động xòe năm ngón tay để nhắc nhớ Lí trưởng rằng mình đã lo lót. Thế nhưng cũng chẳng kém cạnh, Lí trưởng phán “nó phải bằng hai mày” và xòe năm ngón tay trái để úp lên năm ngón tay phải một cách rất đường hoàng. Trong màn kịch này có hai thứ ngôn ngữ, ngôn ngữ công khai và ngôn ngữ mật mà chỉ người trong cuộc mới có thể hiểu được. Lẽ phải của Cải chính là năm ngón tay xòe, tức năm đồng thầy lí đã nhận. Thầy Lí hiểu lẽ phải của Cải, nhưng hành động và lời nói của thầy ngầm chỉ lẽ phải của Ngô còn gấp đôi Cải, tức mười đồng thầy lí nhận được. Lẽ phải trong xã hội, đặc biệt với những người thực thi pháp luật như lí trưởng không phải xuất phát từ công lí mà xuất phát từ đồng tiền, kẻ nào hối lộ nhiều hơn thì kẻ đó nắm trong tay nhiều lẽ phải hơn.Tác giả dân gian đã tố cáo một cách khéo léo bản chất tham nhũng của quan lại địa phương qua hành động và hàm ý của viên lí trưởng.

Truyện sử dụng hình thức gây cười bằng việc sử dụng lối chơi chữ độc đáo. “Phải” vốn là từ chỉ tính chất mang nghĩa là lẽ phải. Thế nhưng khi kết hợp với từ chỉ số lượng “phải bằng hai” tạo ra nhận thức về sự bất hợp lí, tuy nhiên khi nghĩ đến số tiền là mười đồng của Ngô gấp đôi năm đồng của Cải, người đọc lại thấy hợp lí vô cùng. Tiếng cười bật ra sau khi người đọc nhận ra ý nghĩa của việc chơi chữ ấy. Tác giả dân gian còn sử dụng nghệ thuật tương phản, đó là sự đối lập giữa lời đồn đại và thực tế xử kiện của viên lí trưởng. Qua việc tạo tiếng cười, nhân dân ta gián tiếp phê phán thói hối lộ của quan chức và phê phán Ngô và Cải vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm của chính mình. Hành động đút lót của họ vừa đáng thương nhưng cũng đáng trách, đáng thương bởi họ tự đẩy bản thân vào ngõ cụt, đáng trách bởi họ chính là người tiếp tay cho nạn tham những hoành hành.

“Nhưng nó phải bằng hai mày” đã vạch trần lối xử kiện vì tiền của lí trưởng nói riêng, quan lại nói chung và người lao động cũng rơi vào tình trạng bi hài. Bài học ấy không phải chỉ thời xưa mới có, trong bất cứ thời đại nào, đó cũng là một bài học đắt giá cho mỗi chúng ta.