TỔNG HỢP CÁC BÀI VĂN MẪU HAY NHẤT VỀ CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA (TT)

CẢM NGHĨ VỀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG BÀI CA DAO THAN THÂN SỐ 2

Bài làm

Ca dao dân ca từ xưa đến nay tựa như dòng sữa mẹ ngọt mát, nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ lớn lên, những câu ca dao không chỉ tha thiết, thấm đượm cảm xúc mà còn chứa đựng bao triết lý nhân sinh sâu sắc. Bên cạnh ca dao về tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa thì ca dao than thân trách phận của người phụ nữ luôn để lại những suy tư và xúc cảm trong lòng độc giả. Nổi bật trong số đó là bài:

“Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.
Ai ơi, nếm thử mà xem!
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi”

Bài ca dao nằm trong mô típ ca dao than thân, nói lên số phận mong manh yếu đuối của người phụ nữ từ xưa đến nay. Dòng cảm xúc bao trùm của nó là cảm xúc xót xa, buồn thương của người phụ nữ cho chính thân phận của mình. Từ đó muốn cất lên tiếng nói, tìm kiếm sự yêu thương và khát khao đồng cảm. Câu ca dao với ngôn ngữ uyển chuyển, ý tứ khéo léo đã gieo vào lòng người đọc những khắc khoải khôn nguôi.

Mở đầu bài ca dao là cụm từ “Thân em” – mô típ được lặp lại nói về thân phận người phụ nữ. Một số câu ca dao khác cũng sử dụng mô típ này như: “Thân em như hạt mưa sa”, “Thân em như dải lụa đào”, “Thân em như giếng giữa đàng”,… Việc lấy thân mình ra để so sánh với một sự vật hiện tượng trong cuộc sống đã cho thấy sự tự ý thức của người phụ nữ. Họ cảm nhận được rằng số phận mình rất mong manh tựa như cánh hoa trước gió bị bão giông của cuộc đời dồn dập, như dải lụa đào phó mặc cho số phận nổi trôi. Thậm chí còn nhuốm vị chua chát, nhỏ nhoi, bé mọn. Bởi vậy mà mô típ này được sử dụng nhiều trong ca dao than thân trách phận.

Ở câu ca dao này, dân gian ví người phụ nữ như “củ ấu gai” là một so sánh khéo léo. Bởi lẽ củ ấu gai là một loại củ gần gũi với đời sống người Việt. Không chỉ vậy, nó còn thể hiện được vẻ đẹp của người phụ nữ xưa, không kiêu sa đài các mà giản dị, chân chất. Và hơn hết, củ ấu gai có những đặc tính giống với bản chất của người phụ nữ: Ruột trong thì trắng – vỏ ngoài thì đen. Nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài vừa đen, vừa xấu xí của củ ấu thì không ai biết được bên trong nó như thế nào. Muốn thưởng thức củ ấu, phải tách nó ra, nhìn thấy phần ruột trắng thơm trong trẻo thì mới biết được giá trị của nó. Và người phụ nữ cũng vậy. Vẻ đẹp của họ nhiều khi bị khuất lấp bởi bao nhiêu lo toan mệt nhọc của cuộc sống, bao nhiêu những tủi hờn, xót xa không ai thấu hiểu. Thế nhưng ẩn đằng sau hình thức ấy lại là một tâm hồn cao đẹp, biết vị tha, khoan dung. Lẽ đời, nhiều khi hình thức lại không đi kèm với nội dung. Bởi vậy, muốn khám phá ra vẻ đẹp tiềm ẩn của người phụ nữ, đòi hỏi ai kia phải là kẻ tinh tế và đầy thấu hiểu. Vẻ đẹp bên ngoài là vẻ đẹp phù phiếm, vô cùng cuốn hút và hấp dẫn nhưng nó sẽ lụi tàn đi theo thời gian năm tháng. Chỉ có vẻ đẹp bên trong là giá trị trường tồn vĩnh cửu, đi cùng với cuộc sống và hạnh phúc sau này của con người. Đó cũng chính là triết lý nhân sinh sâu sắc mà dân gian muốn gửi gắm đến độc giả.

Đọc tiếp  SOẠN CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA SIÊU NGẮN

Hai câu thơ cuối bài là lời mời gọi “nếm thử” của cô gái đối với các chàng trai. Hay nói cách khác đó là sự thể hiện khát khao được thấu hiểu và đồng cảm của họ. Thân là phụ nữ, sinh ra đã phải chịu bao nhiêu đắng cay khổ cực. Bởi vậy họ chỉ có mong muốn duy nhất là được làm chính mình và được người khác công nhận với tất cả vẻ đẹp nhân bản và “ngọt bùi” của mình. Qua đó, câu thơ cũng đọng lại ý vị xót xa, chua xót của người phụ nữ cho chính bản thân mình.

Bài ca dao với hình ảnh sinh động, ngôn ngữ giàu cảm xúc đã giúp những nghệ sĩ dân gian chuyển tải được hết nội dung và ý nghĩa. Qua đó, để lại trong lòng độc giả những ấn tượng khó quên.

PHÂN TÍCH BÀI CA DAO YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA SỐ 6

Bài làm

      Nghĩa tình vợ chồng thủy chung sắt son, keo sơn gắn bó từ lâu đã trở thành một đề tài phổ biến trong nền văn học nước nhà. Từ xa xưa tình cảm này cũng đã được ông cha ta nhắc đến trong những bài ca dao thiết tha. Tiêu biểu trong số đó là bài “ Muối ba năm” :

 “Muối ba năm muối đang còn mặn
 Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
 Đôi ta nghĩa nặng tình dày
 Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.”

       Mở đầu bài ca dao đã sử dụng những hình ảnh chân thực, mộc mạc, gần gũi với người nông dân Việt Nam ấy là hình ảnh “muối” và “gừng”. Đây là hai gia vị thường dùng và rất dễ thấy trong những bữa cơ bình dân, đặc biệt chúng còn được biết đến là những vị thuốc hữu dụng để chữa bệnh trong lúc ốm đau. Tác giả dân gian đã khéo léo đưa những hình ảnh đơn sơ mà tinh tế vào để tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng đậm đà mà sâu nặng. Có thể nói trong hai câu đầu bài ca dao đã nhấn mạnh bản chất khó thay đổi bởi thời gian của “muối” và “ gừng”. Những cụm từ chỉ thời gian như “ba năm”, “ chín tháng” không đơn thuần chỉ là những con số cụ thể mà còn có hàm ý chỉ khoảng thời gian dài lâu. Muối chính là sự kết tinh của nước biển đọng lại, màu trắng, hạt nhỏ và có vị mặn. Cái dư vị mặn mòi của muối đã được người xưa nhấn mạnh trong cụm từ “ muối ba năm”, trải qua biết bao nhiêu năm tháng hạt muối vẫn luôn mặn mà cũng giống như tình nghĩa vợ chồng dù thời gian càng trôi qua vẫn luôn đậm đà, gắn bó, không hề đổi thay.

Gừng là loại cây thường được trồng trong vườn, ngoài đồng với vị cay nồng và thơm. Độ cay của gừng trải qua chín tháng được ngầm so sánh với mức độ thắm thiết của tình cảm vợ chồng, dù trong gian nan, vất vả của cuộc đời thì tình cảm ấy càng thêm sâu nặng, keo sơn. Việc khéo léo sử dụng cặp câu thơ bảy chứ đối xứng, nhịp thơ cân đối nhịp nhàng kết hợp với điệp từ “ muối” và “gừng” lặp đi lặp lại hai lần ở mỗi câu có tác dụng khắc sâu ý niệm về sự bền lâu.Muốn mặn và gừng cay chính là những hình ảnh tượng trưng ý nghĩa nhất cho tình cảm vợ chồng tuy trải qua biết bao khổ cực, sóng gió vẫn luôn keo sơn, khăng khít với nhau. Hai hình ảnh này cũng đã đi vào rất nhiều bài ca dao khi nói đến tình nghĩa của con người :

Đọc tiếp  TÌM HIỂU VỀ THỂ LOẠI CA DAO

“ Tay bưng đĩa muối chấm gừng
 Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

       Câu thứ ba của bài ca dao là một câu thơ sáu chữ với âm điệu ngọt ngào, sâu lắng đan xen giữa các cụm từ như “ đôi ta”, “nghĩa nặng tình dày” thể hiện sự khăng khít, gắn bó, hòa hợp tuy hai mà như một của đôi vợ chồng. Đặc biệt cụm từ “ nghĩa nặng tình dày” giống như một lời khẳng định rằng tình cảm vợ chồng vững bền như một hòn đá tảng, không gì có thể thay đổi, di chuyển được. “Nghĩa” là nghĩa vụ, trách nhiệm, “tình” là tình cảm, nghĩa càng dày thì tình càng nặng, không bao giờ nhạt phai.

Câu kết của bài ca dao đột ngột kéo dài ra thành mười ba chữ, nhân vật trữ tình đã đặt ra một giả thiếthay cũng là tâm trạng băn khoăn lo lắng “ nếu xa nhau”. Chúng ta đều biết rằng trong cuộc sống đặc biệt là cuộc sống vợ chồng dẫu có hạnh phúc đến đâu song cũng luôn có những yếu tố tác động đến, vì vậy dù có sống trong bình yên người ta vẫn sẽ phải nghĩ đến những gian lao, thử thách đang ở trước mắt, tác giả dân gian ở đây cũng như vậy. Dù lo lắng nhưng ngay sau đó nhân vật trữ tình đã tự trả lời cho giả thiết của chính mình “ ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”. “ Ba vạn sáu nghìn ngày” là con số ước tính là một trăm năm,tức là cả một đời người cũng có nghĩa là tình nghĩa vợ chồng sẽ gắn bó với nhau suốt đời suốt kiếp, nếu có lìa xa thì đến chết mới xa nhau. Câu tự trả lời giống như một lời khẳng định, lời khắc cốt ghi tâm thề nguyện rằng tình cảm vợ chồng sẽ bền chặt đến khi đầu bạc răng long.

Bài ca dao với những hình ảnh giản dị, mộc mạc và gần gũi kết hợp với nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển đã để lại ấn tượng sâu sắc cho chúng ta về tình cảm vợ chồng đồng thời thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người lao động: gắn bó, thủy chung trong nghĩa tình vợ chồng và trong tình yêu đôi lứa.

CẢM NHẬN VỀ BÀI CA DAO: ƯỚC GÌ SÔNG RỘNG MỘT GANG/ BẮC CẦU DẢI YẾM CHO NÀNG SANG CHƠI

Bài làm

    Chủ đề tình yêu luôn là mảnh đất màu mỡ của nhiều môn nghệ thuật, đặc biệt là trong văn học. Ta không khỏi xúc động trước mối tình chung thủy của Kim – Kiều, khâm phục trước tình yêu cao thượng trong “Tôi yêu em” của Puskin, hạnh phúc trước tình yêu quá đỗi bình dị giữa cơn đói khát của Tràng trong “Vợ nhặt”. Đến với ca dao dân ca, tình yêu được thể hiện vô cùng chân thành, mãnh liệt nhưng tế nhị và khéo léo. Tiêu biểu trong đó là bài ca dao:

“Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”

Bài ca là lời của cô gái, bày tỏ một ước mơ trong tình yêu đôi lứa. Chỉ có hai câu lục bát mà đủ diễn tả một tình yêu thiết tha, mãnh liệt.

Đọc tiếp  BÀI GIẢNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT

Bài ca mở đầu bằng hình ảnh con sông. Con sông cách trở lứa đôi nên em và chàng khó gặp gỡ. Nhưng có hề gì, “yêu nhau mấy núi sông cũng trèo”- Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”! Tuy nhiên, “lội” cũng là một sự khó khăn rồi: Nếu “bắc cầu” thì lứa đôi gặp gỡ sẽ dễ dàng hơn. Cho nên cô gái “ước gì sông rộng một gang”. Sông mà rộng chỉ một gang, cách nói cường điệu tạo nên một sự vô lí thú vị. Vô lí cho nên mới phải “ước”. Sự vô lí trong điều mơ ước diễn tả điều có lí của tình yêu. Sông chỉ một gang thì cô gái mới có thể “bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”.

Cây cầu – dải yếm là một hình tượng đặc sắc của bài ca. Cây cầu là một trong những mô-típ nghệ thuật quen thuộc và đặc sắc của ca dao, gắn chặt với đời sống tình cảm phong phú, mãnh liệt nhưng cũng hết sức tế nhị, duyên dáng của người bình dân Việt Nam. Mô-típ này xuất phát từ cuộc sống dân dã của người bình dân. Làng quê Việt Nam nơi nào mà chẳng có sông rạch, chẳng có một chiếc cầu. Cầu là phương tiện giao thông, cầu cũng là không gian trữ tình, là nơi gặp gỡ, hò hẹn của trai gái. Cầu đi vào ca dao, trở thành biểu tượng của tình yêu, ước mơ của tình yêu. Người bình dân thổ lộ tình yêu của mình trong hình ảnh những chiếc cầu bắc qua sông. Không phải là cầu tre, cầu gỗ, những chiếc cầu này độc đáo hơn nhiều. Khi thì là cành hồng.

Hai ta cách một con sông,
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.

Khi thì là cành trầm:

Cách nhau có một con đầm,
Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang.
Cành trầm lá dọc lá ngang,
Đố người bên ấy bước sang cành trầm.

Lạ hơn nữa là cái cầu – mồng tơi:

Gần đây mà chẳng sang chơi,
Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu.
Sợ rằng chàng chả đi cầu,
Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em.

Đến bài ca này, cái cầu – dải yếm lại càng lạ hơn nữa. Đây mới đúng là cái cầu của người con gái chủ động bắc cho người mình yêu, nó vượt qua mọi sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến ngày xưa. Nó táo bạo, mãnh liệt, và cũng thật trữ tình, ý nhị, bởi nó là cái dải yếm, cái vật mềm mại luôn quấn quýt bên thân hình người con gái, trở thành biểu tượng riêng của người con gái. Người con gái muốn dùng cái vật thân thiết, gần gũi nhất của mình để bắc cầu mời mọc người mình yêu. Cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi còn là những cái bên ngoài, còn dải yếm là cái bên trong. Cho nên cái cầu – dải yểm mới thật chân tình, táo bạo, và trở thành cái cầu tình yêu đẹp nhất trong ca dao. Cái dải yếm bình thường đi vào bài ca bỗng trở thành đầy chất thơ của tình yêu.

Bài ca giãi bày ước mơ tha thiết và mãnh liệt của người con gái trong tình yêu, qua đó thể hiện vẻ đẹp tình yêu của người lao động: bình dị, mãnh liệt nhưng cũng hết sức tế nhị, duyên dáng.