TỔNG HỢP CÁC BÀI VĂN MẪU HAY NHẤT VỀ CA DAO HÀI HƯỚC

PHÂN TÍCH BÀI CA DAO HÀI HƯỚC THỨ NHẤT

Bài làm

        Người nông dân xưa gần như suốt đời cơ cực, bần hàn về vật chất, nhưng đời sống tinh thần thì vô cùng phong phú. Các yếu tố lạc quan, hài hước phần nào làm vơi bớt nỗi lo toan cơm áo hằng ngày. Vào những dịp vui vẻ như lễ. Tết, cưới hỏi… thì dân chúng trong làng, trong xóm cùng nhau chia sẻ.

Chúng ta có thể cảm nhận được tiếng cười lạc quan trong ca dao qua nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh của người bình dân. Điển hình là bài ca dao sau đây:

– Cưới nàng anh toan dẫn voi,

Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,

Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

Miễn là có thú bốn chân,

Dẫn con chuột béo mời dân, mời làng.

– Chàng dẫn thế em lấy làm sang,

Nỡ nào em lại phá ngang như là…

Người ta thách lớn thách gà,

Nhà em thách cưới một nhà khoai lang:

Củ to thì để mời làng,

Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi,

Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

Bao nhiêu củ rím, củ hà,

Để cho con lợn, con gà nó ăn.

       Có thể coi bài ca dao trên là lời hát đối đáp giữa nam và nữ, mượn hình thức trào lộng, hài hước để thể hiện nội dung trữ tình. Nói khác đi, đây là một cách tỏ tình khá độc đáo và đặc sắc.

Chàng trai bàn đến chuyện cưới xin, như thế tức là cô gái đã chấp thuận hôn nhân – mục đích cuối cùng của tình yêu. Hôn nhân là việc hệ trọng của đời người, vậy mà ta hãy thử xem chàng trai bàn bạc bằng giọng điệu như thế nào ? Những lễ vật dẫn cưới toàn là những thứ to tát khác thường. Lúc đầu, chàng định dẫn voi cho thiên hạ phải nể sợ, vì từ trước đến nay, chưa ai làm thế cả ; nhưng lại chợt nghĩ ra voi là thứ quốc cấm, nên thôi. Không có voi thì dẫn trâu vậy. Vẫn oai hơn người, vì nhà giàu cũng chỉ nộp lễ vật cho bên đằng gái bằng gà, bằng lợn. Nhưng lại sợ họ hàng nhà em toàn máu hàn, ăn thịt trâu vào đau bụng thì anh mang tiếng. Thật là khó nghĩ! Không nộp thủ bốn chân thì áy náy, chẳng yên lòng được. Thôi thì : Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng(?!) Bất ngờ và ngộ nghĩnh vô cùng, bởi chuột cũng là thú bốn chân!

Lúc đầu, anh toan dẫn voi, sau đó định dẫn trâu, cuối cùng dừng lại ở việc: Dẫn con chuột béo. Chắc hẳn con chuột này phải to khủng khiếp mới đủ làm tiệc đãi cả làng! Ngẫm kĩ, ẩn chứa đằng sau câu nói hài hước, khoa trương đó là một sự thật phũ phàng: gia cảnh chàng trai quá nghèo, chẳng có gì để mà cưới vợ.

Cách nói của anh chàng giống hệt như cách nói khoác ở một số địa phương ở Phú Thọ, Hải Phòng, hay như kiểu của bác Ba Phi Nam Bộ. Nói cho vui, nói để gây nên những tràng cười giòn giã, cho quên đi trong phút chốc cải thân phận nghèo hèn của mình.

Còn cô gái khi nghe người yêu bàn thế thì có thái độ ra sao ? Thông minh, sắc sảo, cô lấy ngay cái độc đáo chưa từng có trong tục dẫn cưới để đối đáp lại:

Người ta thách lợn thách gà,

Nhà em thách cưới một nhà khoai lang.

       Từ thách nghe mới ghê gớm làm sao! Thách có nghĩa là đòi hỏi quá cao về mặt lễ vật. Thường thì nhà giàu gả con gái mới thách cưới. Về sau, nghĩa của từ này dần dần mang tính phổ thông, dân gian. Điều đáng lưu ý là trong bài ca dao trên, cô gái thay mặt cha mẹ mà thách cưới (Cũng hiếm gặp cô gái nào chủ động và mạnh dạn đến thế!). Xem thử cô thách những gì? Chỉ có một thứ rất bình thường, nếu không nói là tầm thường: khoai lang, nhưng số lượng thì rất nhiều: một nhà (1) Khoai lang là thức ăn quen thuộc của người nghèo và họ có thể tự trồng được, chẳng khó khăn gì. Ta thử hình dung sự lúng túng, băn khoăn của chàng trai trước lời thách cưới cũng thuộc loại chưa từng thấy của người yêu. Hình như cô gái đoán ra điều ấy nên cô giải thích cặn kẽ, cụ thể luôn:

Củ to thì để mời làng,

Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

       Đúng rồi! Đám cưới thì đương nhiên phải mời các vị chức sắc trong làng cùng họ hàng nội ngoại, bà con thôn xóm. Như thế là hợp lẽ. Còn đám trẻ, cũng phải cho chúng ăn cỗ cưới với chức

Đọc tiếp  LỜI TIỄN DẶN

Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi,

Để cho lũ trẻ ăn chơi giữ nhà.

       Thế cũng chưa hết được một nhà khoai lang. Chàng đừng lo, hãy nghe em nói tiếp:

Bao nhiêu cũ rím, củ hà,

Để cho con lợn, con gà nó ăn…

       Tính toán đâu ra đấy đến thế thì chàng chỉ có nước… chịu nàng! Ôi chao! Cưới được người vợ tháo vát, đảm đang như nàng thì dẫu có dẫn voi, dẫn trâu thật cũng chưa xứng đáng!

Nói là nói vậy, chứ cốt lõi của lời thách cưới kì lạ trên chính là thái độ vui vẻ chấp nhận gia cảnh nghèo khó của người yêu. Nhà anh chẳng có gì, nhà em cũng vậy, nhưng ông bà ta đã chẳng từng khẳng định:

Đã yêu quán cũng như nhà,

Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói xây.

       Hay:

Yêu nhau chẳng lọ chiếu giường,

Dẫu rằng tàu lá che sương cũng tình.

       Rõ ràng, cô gái trân trọng người lao động, trân trọng những gì người lao động làm ra bằng mồ hôi nước mắt, bằng một nắng hai sương. Và trên hết là tình yêu trong sáng, bất vụ lợi. Đáng quý biết chừng nào.

CẢM NHẬN VỀ BÀI CA DAO HÀI HƯỚC SỐ 2

Bài làm

      Có thể nói trong kho tàng ca dao tục ngữ của nước ta có biết bao câu hát của người dân lao động, cả về tình yêu, tình cha mẹ, nỗi buồn thương nhớ,…Tất cả đều như được gói gém lại trong những câu ca dao đầy tình tứ ấy. Và trong số những câu ca dao đó có cả những câu ca dao hài hước nhưng lại mang một thái độ châm biếm đến quyết liệt. Câu ca dao sau chính là một câu ca dao về sự châm biếm người siêng ăn lười làm. Châm biếm anh chàng chẳng được việc gì ra hồn cho dù việc đó là một việc tưởng chừng như rất nhỏ nhặt.

Làm trai cho đáng sức trai
Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng.

Câu ca dao như đã bày tỏ thái độ là đã phản ánh những kẻ siêng ăn, biếng làm, châm biếm một anh chàng có thể trạng yếu ớt, chẳng làm được việc gì ra hồn. Gây ra những điều không hề tốt cho chính bản thân người đó và cả xã hội.

Câu ca dao như đã tái hiện, đã vẽ nên một bức chân dung thật hài hước và thú vị bằng nghệ thuật phóng đại kết hợp với thủ pháp đối lập. Người xưa thường ngợi ca sức trẻ, sức trai dời non lấp bể. Hay trong thời đại ngày trước có những câu văn rất khi thế khi nói về một trang nam tử “Đã mang tiếng sinh ra trong trời đất, thì phải có công gì với núi sông”. Tất cả đều ca ngợi những vẻ đẹp của một trang nam nhi sức dài vai rộng và họ sẵn sàng hi sinh vì lẽ lớn. Ta cũng đã từng nghr lũ trẻ con hay hát bài đồng dao “Gánh gánh gồng gồng, gánh sông gánh chợ”. Cao hơn nữa, điều muốn nói ở đây chính là phận sự của các trang nam nhi là gánh nợ nước non. Vậy mà ở đây chàng trai yếu ớt một cách bất thường không thể chấp nhận được. Một chàng trai mà lại phải khom lung uốn gối, một loạt các từ miêu tả một hình hình ảnh khó nhọc và phải vất vả lắm. Từ “gánh” thường được dùng khi mang một vật gì rất nặng và để đi một quãng đường dài dường như chỉ có việc gánh mới có thể giúp người đó cùng một lúc có thể mang được nhiều đồ đi. Nhưng đọc đến chữ cuối ta lại không khỏi ngỡ ngàng bởi  thứ được “gánh” ở đây, thứ mà chàng trai kia phải ra sức “khom lung”, “uốn gối” nhưng chỉ để gách có hai hạt vừng. Và iếng cười như được bật vang lên từ những chi tiết đối lập ngoài sức tưởng tượng như thế. Và có thể nói sau tiếng cười đó chính là sự biểu lộ thái độ mỉa mai của người đời khi gặp những trường hợp dày ăn mỏng làm, lười biếng và hèn nhác.

Qua giọng điệu của câu ca dao ngắn gọn đó, ta như có thể hiểu nội dung của câu ca dao theo hai nét nghĩa. Nét nghĩa đầu tiên là thể trạng ốm yếu của anh chàng là do cha mẹ  sinh ra, nhưng anh ta không chịu rèn luyện để có được một thân thể cường tráng, khỏe mạnh. Thứ hai là chàng trai này quá lười biếng, nhu nhược, không có dũng khí trong cuộc sống, không dám gánh vác những trọng trách lớn lao trong gia đình và ngoài xã hội. Hạng đàn ông như vậy chỉ là gánh nặng cho mọi người mà thôi.

Mỗi câu hát, mỗi bài ca dao lại mở cho chúng ta biết bao điều hay lẽ phải, bài học nhìn nhận về cuộc sống về con người. Đồng thời tỏ rõ thái độ chê trách của người xưa trước những hành động xấu của con người như lười biếng, dày ăn mỏng làm,…

Đọc tiếp  PHÂN TÍCH CA DAO HÀI HƯỚC

CẢM NHẬN VỀ BÀI CA DAO HÀI HƯỚC SỐ 3

Bài làm
     Ca dao tục ngữ là kho tàng dân gian phong phú của người dân Việt Nam. Nó phản ánh những tâm tư, nguyện vọng của người nông dân lao động trong xã hội cũ. Những nỗi buồn chất chứa trong lòng không biết giải tỏa cùng ai được họ viết ra thông qua những câu ca dao để gửi gắm nỗi niềm vào trong đó.
Chồng người đi ngược về xuôi,
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo.
     Câu ca dao này thể hiện tâm trạng buồn chán, thất vọng xen lẫn sự xấu hổ tủi hơn của người vợ lấy được anh chồng lười biếng, yếu kém về mọi mặt.
     “Chồng người” thì đi ngược về xuôi, thể hiện sự bận rộn trong công việc, lo toan mưu sinh cho cuộc sống gia đình, cho vợ con tất bật, đi ngược về xuôi, bận rộn, tất tả. Thể hiện việc “chồng người” thông minh tài giỏi bởi người xưa thường nói câu “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Việc chồng người ngược xuôi bôn ba thể hiện sự thông minh, tài tháo vát của những người chồng là trụ cột của gia đình.
     “Chồng em”, thể hiện sự sở hữu chính chủ của người con gái với người con trai. “Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo” hành động ngồi bếp chỉ dành cho những người phụ nữ, thể hiện thiên chức bếp núc chợ búa cơm nước của người phụ nữ xưa. Nhưng anh chồng em lại thích ngồi trong bếp, làm công việc của phụ nữ.
Võ Tòng xưa nổi tiếng là anh hùng đánh hổ, nhưng chồng em cũng làm đàn ông nhưng không thể ngược xuôi buôn bán, không có tài văn chương để ứng thi, thi đỗ khoa bảng, cũng chẳng giỏi võ để giết hổ như Võ Tòng mà chỉ có thể ngồi bếp để sờ đuôi con mèo. Một con vật hiền lành, thể hiện sự yếu đuối nhút nhát, lười biếng của người đàn ông có tên là “Chồng em”. Người vợ đau đớn khi phải than thở những câu nói thật não nề, thê lương nói lên hoàn cảnh bi thương ai oán của người phụ nữ khi lấy phải ông chồng lười biếng, hèn nhát lao động, thiếu ý chí vươn lên trong cuộc sống.
     Trong bài ca dao này người đàn ông được phác họa lên thật hài hước, thật thảm hại biết nhường nào. Hành động sợ đuôi con mèo thể hiện anh ta là người lười biếng chỉ quanh quẩn xó bếp giống như con mèo lười suốt ngày thích ngồi cạnh bếp để sưởi cho ấm, không đi ra ngoài lao động, suy nghĩ tìm kế mưu sinh cho vợ con bớt khổ.
     Những người đàn ông như vậy thường bị xã hội phê phán, lên án, họ sẽ chẳng làm nên sự nghiệp lớn và không thể trở thành trụ cột vững chắc cho gia đình.

CẢM NHẬN VỀ BÀI CA DAO HÀI HƯỚC SỐ 4

Bài làm
     Trong kho tàng ca dao – tục ngữ Việt Nam, có rất nhiều câu nói về kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử trong cuộc sống hằng ngày mà ông cha ta để lại. Thế nhưng cũng có rất nhiều câu ca dao là tiếng cười vui vẻ, cười châm biếm sau những giờ phút nông nhàn căng thẳng. Tuy nhiên, đằng sau đó cũng là rất nhiều những lời khuyên thấm thía. Bài ca dao Lỗ mũi mười tám gánh lông…… Hoa thơm rắc đầu” là một trong những bài ca dao về chủ đề này. Bài ca dao là tiếng cười về sự vô duyên quá đáng của một người con gái và sự khoan dung đến mức không thể tưởng tượng được của anh chồng, cũng là lời khuyên mọi người nên biết hành động một cách có chừng mực, phải biết đúng sai chứ đừng như vợ chồng nhân vật chính trong bài ca dao.
Mở đầu bài ca dao là phần tả về vẻ bề ngoài của cô gái:
“Lỗ mũi mười tám gánh lông
Chông yêu chống bảo râu rồng trời cho”
     Đây là một cách miêu tả một cách phóng đại, lông mũi mà lại tính bằng “gánh”, mà ở đây còn là tận “mười tám gánh”. Bình thường, người con gái phải rất chăm chút cho ngoại hình của mình, nhất là trong thời xưa, người con gái càng bị soi xét nhiều về vẻ bề ngoài. Vậy mà cô gái này lại để lông mũi mình bị người nhìn vào tả lại rằng mũi mình có cả gánh lông. Bình thường, gánh là để chỉ một khối khá lớn rơm, rạ, rau, cỏ, chứ ai lại lấy lông mũi đo bằng gánh bao giờ? Con số mười tám cũng chỉ là con số tượng trưng, để nói rằng lông mũi của cô gái này quá nhiều. Một người con gái như thế, có lẽ sẽ nhận được sự phê phán của ngay cả người thân nhất của mình. Tuy nhiên, người chồng của cô lại yêu cô đến mức ví lông mũi của cô như “râu rồng trời cho”. Rồng là một con vật tượng trưng cho một thế lực bí ẩn, khiến cho tất cả mọi người đều kính trọng. Râu rồng, đương nhiên cũng là một thứ rất đẹp, rất quý. Còn là thứ “trời cho”. Nghĩa là, anh chồng coi việc cô vợ mình có lông mũi là việc rất bình thường, thậm chí còn đẹp, còn đáng quý như những thứ được trời cho.
Vẻ bề ngoài đã thế, hành động của cô còn có vẻ vô duyên hơn:
“Đêm nằm thì ngáy o o
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà”
     Trong xã hội phong kiến xưa, người phụ nữ là một người lúc nào cũng phải nhẹ nhàng, kín đáo. Vậy mà cô gái nằm ngủ lại ngáy thành tiếng, ngáy to và kéo dài, ngáy o o. Tuy rằng việc một người đêm ngủ ngáy sẽ còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như do làm việc vất vả, do gen, do bệnh…., nhưng ở đây, câu ca dao này hẳn là muốn nhắc đến tư thế ngủ rất xấu, làm phiền đến người ngủ cùng. Thế nhưng, ông chồng, lại vẫn tiếp tục yêu chiều vợ: “Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà”. Anh chồng dường như coi tiếng ngáy o o của vợ mình như tiếng đàn, tiếng sáo, nghe rất hay, rất vui tai, khiến cho căn nhà không bị tĩnh lặng. Thật là một người chồng bao dung! Anh không những không thấy khó chịu, mà còn cho qua, bao biện cho vợ.
Không chỉ luộm thuộm ở vẻ bề ngoài, không chỉ vô ý về cách thức ăn ở, người vợ còn vô duyên cả ở ngoài xã hội:
“Ra chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm”
     Thời xưa, người phụ nữ phải tuân theo tam tòng tứ đức, phải chăm lo cho gia đình, chồng con. Nếu đi ra chợ, chỉ là ra chợ để bán hàng ,hoặc để mua những thứ cần thiết cho gia đình mà thôi. Vậy mà cô vợ ra chợ thì chỉ chú ý đến việc ăn quà. Trong xã hội phong kiến, việc ăn quà là một việc rất đáng lên án của người phụ nữ. Bởi đó là một việc làm chỉ biết chăm lo, thỏa mãn cho bản thân, chỉ biết một mình mình hưởng thụ mà không biết nghĩ đến chồng con ở nhà. Cô vợ này lại còn “hay ăn quà”, nghĩa là việc ăn quà diễn ra thường xuyên, liên tục. Chỉ bằng một hành động, nhưng tác giả dân gian đã vẽ nên một loạt những tính cách xấu của người phụ nữ này. Vậy mà, anh chồng vẫn không tức giận, mà chỉ cho rằng, “về nhà đỡ cơm”. Một lí do thật chính đáng làm sao! Ăn ở đâu cũng là ăn, ăn ở chợ thì về nhà khỏi phải ăn nữa, cũng tốt chứ có sao đâu.
Ở hai câu cuối, lại là hai câu nói về ngoại hình của cô vợ:
“Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu”
     Nếu như ở câu đầu, chúng ta có thể châm chước cho người phụ nữ này, bởi nhiều khi, ngoại hình là thứ mà chúng ta không được quyền lựa chọn. Thế nhưng, đến câu này, thì người phụ nữ này hiện lên rõ ràng với hình ảnh một người vợ thật là vụng về, không biết chăm lo cho người khác, cũng không biết chăm lo cho chính mình. Nếu như chỉ đọc câu này, người đọc có thể thông cảm, vì nhỡ đâu là do cô ấy chăm chút cho chồng, cho con quá mà quên mất bản thân mình. Nhưng đã biết ở trên, nên đến đây, chúng ta chỉ biết lắc đầu ngán ngẩm. Vậy mà ông chồng, vẫn một mực bao che cho vợ của mình, coi rơm rạ mà cô vợ không biết bỏ ra như “hoa thơm rắc đầu”, coi như là một món đồ trang điểm chứ không coi đó là rác, là những thứ bẩn thỉu. Không chỉ lắc đầu với cô vợ, người đọc đang rơi vào tâm trạng không thể hiểu nổi, tại sao sức chịu đựng của người chồng lại tốt đến vậy. Vẫn biết, “yêu nhau củ ấu cũng tròn”, thế nhưng, đó không phải là bao che, ngụy biện, biết sai mà không chịu góp ý để vợ sửa thì thật là không tốt.
     Bài ca dao là tiếng cười vui vẻ, sảng khoái của ông cha ta sau những giờ làm việc vất vả, là tiếng cười phê phán, nhưng không hề có ác ý, hay ghét bỏ. Qua đó, ông cha ta cũng muốn khuyên răn con cháu rằng, hãy biết nhận thức cái đúng, cái sai, cái đẹp, cái xấu, cái tốt và cái không tốt, đừng để tình yêu làm cho mù quáng như anh chồng trong bài ca dao, cũng đừng vụng về như cô vợ để khiến người xung quanh chê cười.