Phát triển năng lực tự học và bài tập trắc nghiệm theo từng bài SGK Hóa học 11

Phát triển năng lực tự học và bài tập trắc nghiệm theo từng bài SGK Hóa học 11

Tài liệu gồm 170 trang, được biên soạn bởi thầy giáo Lê Hữu Đông, hướng dẫn phát triển năng lực tự học và bài tập trắc nghiệm theo từng bài SGK Hóa học 11.

A. Chuẩn kiến thức và kỹ năng Kiến thức Biết được Khái niệm về sự điện li, chất điện li, chất điện li mạnh, chất điện li yếu, cân bằng điện li. Kĩ năng Quan sát thí nghiệm, rút ra được kết luận về tính dẫn điện của dung dịch chất điện li. Phân biệt được chất điện li, chất không điện li, chất điện li mạnh, chất điện li yếu. Viết được phương trình điện li của chất điện li mạnh, chất điện li yếu.
B. Trọng tâm Bản chất tính dẫn điện của chất điện li (nguyên nhân và cơ chế đơn giản) Viết phương trình điện li của một số chất. C. Hướng dẫn thực hiện Hình thành khái niệm chất điện li bằng thực nghiệm (có TN phản chứng về chất không điện li). Dựa vào kiến thức về dòng điện đã học trong Vật lí lớp 9 để thấy nguyên nhân dẫn điện của các chất điện li (phân biệt rõ phần tử nào tích điện dương, phần tử nào tích điện âm và trị số điện tích bằng bào nhiêu trong một phân tử chất điện li).
Viết phương trình điện li dựa vào bảng tính tan của các chất, những chất được kí hiệu “T” thì phương trình điện li sử dụng mũi tên một chiều, những chất được kí hiệu “K” thì không viết phương trình điện li hoặc nếu viết phương trình điện li thì sử dụng mũi tên hai chiều để biểu diễn cân bằng điện li giữa một phần tan cân bằng với phần không tan.
Đánh giá độ axit và độ kiềm của các dung dịch theo nồng độ ion H+ và pH -Xác định được môi trường của dung dịch dựa vào màu của giấy chỉ thị vạn năng,giấy quỳ và dung dịch phenolphtalein. – Từ phương trình điện ly của nước hình thành định nghĩa môi trường trung tính và viết được tích số ion của nước, từ đó dùng biết cách dùng nồng độ ion H+ để đánh giá độ axit và độ kiềm. – Hình thành khái niệm pH với qui ước [H+] = 1,0.10-a pH = a biểu thị độ axit hay độ kiềm của dung dịch Môi trương trung tính: [H+]=1,0.10-7 pH = 7 Môi trường axit : [H+] >1,0.10-7 pH < 7 Môi trường kiềm [H+] < 1,0.10-7 pH .7 – Dựa và sự chuyển màu của giấy quỳ và dung dịch phenophtalein xác định được môi trường của dung dịch, dựa vào màu của giấy chỉ thị vạn năng có thể xác định được gần đúng giá trị pH của dung dịch.

Đọc tiếp  Lý thuyết và các dạng bài tập chuyên đề nhóm cacbon – silic

TẢI PDF TÀI LIỆU