BÀI VIẾT CHI TIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 2

Đề 1: Kể lại một truyện cổ tích hoặc một truyện ngắn mà anh/chị yêu thích (ví dụ Sọ Dừa, Bến quê, Những ngôi sao xa xôi)

Bài làm

      Nhĩ vừa ngồi trên giường bệnh để vợ bón cho từng thìa thức ăn vừa nghĩ, thời tiết đã thay đổi, đã sắp lập thu rồi. Cái nóng ở trong phòng cùng ánh sáng loa lóa ở mặt sông Hồng đã không còn nữa.

Vòm trời như cao hơn. Những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, nơi một vùng phù sa lâu đời của sông Hồng đang phô ra trước khuôn cửa sổ gian gác nhà Nhĩ những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ. Suốt đời, Nhĩ đã từng đi khắp đó đây vậy mà cái bờ bên kia sông Hồng tưởng như gần gũi nhưng lại xa lắc xa lơ bởi anh chưa đặt chân đến đó bao giờ.

Nhĩ khó nhọc nâng cánh tay lên ẩy cái bát miến trên tay của Liên ra. Anh chàng ngửa mặt như một đứa trẻ để cho thằng con lau mặt. Chờ khi đứa con trai đã bưng thau nước xuống dưới nhà, anh hỏi vợ:

– Đêm qua lúc gần sáng em có nghe thấy tiếng gì không?

Liên giả vờ không nghe chồng nói. Anh lại tiếp:

– Hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ?

Liên vẫn không đáp. Chị biết chồng đang nghĩ gì. Chị đưa những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve chồng, rồi an ủi:

– Anh cứ yên tâm. Vất vả, tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được.

Nhĩ thấy thương Liên. Cả đời chị đã vì anh mà khổ. Anh thương chị lắm nhưng chẳng biết nói sao.

Ngừng một lát, Liên lại động viên anh:

– Anh cứ tập tành và uống thuốc. Sang tháng mười, nhất định anh sẽ đi lại được.

Nhĩ thoáng chốc quên đi bệnh tật. Anh bị cuốn vào những câu nói bông đùa của Liên. Nhưng rồi, Liên đặt bàn tay vào sau phiến lưng đã có nhiều mảng thịt vừa chai cứng vừa lở loét của Nhĩ. Thế là cái cảm giác mệt mỏi vì bệnh tật lại trở về với anh.

Liên đã đi ra ngoài và dọn dẹp. Chị hãm thuốc cho chồng xong rồi đi chợ. Chờ cho vợ đi hẳn xuống dưới nhà rồi, Nhĩ mới gọi cậu con trai vào và nói:

– Đã bao giờ con sang bên kia chưa? Nhĩ vừa nói vừa ngước nhìn ra ngoài cửa sổ.

Cậu con trai dường như nghe chưa rõ bèn hỏi lại:

– Sang đâu hả bố?- Bên kia sông ấy!

Tuấn đáp vẻ hững hờ:

– Chưa…

Nhĩ tập trung hết sức còn lại để nói ra cái điều ham muốn cuối cùng của đời anh:

– Bây giờ con sang bên kia sông hộ bố.

– Để làm gì ạ?

– Chẳng để làm gì cả. Nhĩ ngượng nghịu nhận ra sự kỳ quặc trong ý nghĩ của mình. Nhưng anh vẫn tiếp:

– Con hãy qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi loanh quanh đâu đó hoặc vào một hàng quán nào đó mua cho cha cái bánh rồi về.

Cậu con trai miễn cưỡng mặc quần áo, đội chiếc mũ nan rộng vành rồi ra đi.

Vừa nghe Tuấn bước xuống thang, Nhĩ đã thu hết tàn lực lết dần, lết dần trên chiếc phản gỗ. Nhấc mình ra được bên ngoài phiến nệm nằm, anh mệt lử và đau nhức. Anh chỉ muốn có ai đỡ cho để nằm xuống.Nghe tiếng bước chân ở bên kia tường, Nhĩ cúi xuống thở hổn hển để lấy lại sức rồi cất tiếng gọi yếu ớt: “Huệ ơi!”.

Cô bé nhà bên chạy sang. Và dường như đã rất quen, cô lễ phép hỏi: “Bác cần nằm xuống phải không ạ?”.

– Ừ, ừ… chào cháu, Nhĩ trả lời.

Cô bé chưa vội đỡ Nhĩ. Nó chạy ra ngoài gọi mấy đứa bạn vào và rồi cả bọn cùng giúp Nhĩ nằm ra ngoài tấm nệm. Chúng giúp anh đặt một bàn tay lên bậu cửa sổ và chèn một đống gối sau lưng. Anh thấy hạnh phúc và càng yêu hơn lũ trẻ.

Ngoài sát ngay sau khuôn cửa sổ, Nhĩ nhìn thấy ở bờ bên kia một cánh buồm vừa bắt gió. Sát bên bờ của dải đất lở bên này, một đám đông đợi đò đang đứng nhìn sang nhưng Nhĩ cứ nhìn mãi mà không thấy bóng thằng con trai đâu cả.

Thì ra thằng con anh đang dán mắt vào một bàn cờ thế. Ngày xưa anh cũng từng mê cờ thế. Và bây giờ, Nhĩ nghĩ một cách vô cùng buồn bã: con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái vòng vèo quanh co. Nhĩ chợt nhớ về cái ngày anh mới cưới Liên. Một cô gái nhà quê nay đã trở thành một người đàn bà thành thị. Tuy vậy cũng như cánh bãi bồi bên sông, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên nét tảo tần và chịu đựng. Và chính nhờ những điều này mà sau bao ngày bôn tẩu, Nhĩ đã tìm thấy một nơi nương tựa ấy chính là cái gia đình bé nhỏ này.

Con đò đã sang quá nửa sông. Và chính giữa lúc Nhĩ đang tưởng tượng mình đội chiếc mũ nan và sang sông như một nhà thám hiểm thì có tiếng người vào. Anh quay lại. Đó là ông cụ giáo Khuyến – người ngày nào cũng ghé qua hỏi thăm sức khỏe của anh.Hai người đang nói chuyện thì bỗng ông hàng xóm hốt hoảng nhận ra mặt mũi Nhĩ đỏ rựng, hai mắt long lanh, hai bàn tay bấu chặt vào bậu cửa và run rẩy. Anh đang cố thu nhặt hết chút sức lực cuối cùng để đu mình nhò người ra ngoài, giơ một cánh tay làm ra vẻ ra hiệu cho một người nào ngoài đó.

Ngay lúc bấy giờ, chiếc đò ngang mỗi ngày một chuyến chở khách qua lại hai bên sông Hồng vừa chạm mũ vào cái bờ đất lở dốc đứng phía bên này.

 

Đề 2: Hảy tưởng tượng mình là Xi-mông, kể lại chuyện Bố của Xi-mông.

Bài làm

Tôi là đứa trẻ bất hạnh vì không có bố. Tuy lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ nhưng tôi vẫn thấy thiếu thôn tình cảm của một người bố. Điều mà tôi sợ nhất là ngày ngày đến trường, lũ trẻ nghịch ngợm cứ quây quanh tôi mà la toáng lên: “Ê, ê! Thằng con hoang không có bố!”.

Hồi ấy tôi khoảng bảy hoặc tám tuổi, xanh xao nhút nhát. Điệu bộ của tôi vụng về ngượng nghịu đến phát tội. Tan trường về nhà, tai tôi nghe đầy lời đám trẻ xầm xì không ngừng. Chúng ranh mãnh theo dõi từng bước của tôi. Bằng trò trêu ghẹo độc ác vô tội vạ của con nít, chúng chặn trước chặn sau, bao vây dồn tôi vào giữa. Tôi chỉ biết đứng chịu trận, vừa ngạc nhiên, vừa hoang mang sợ hãi chẳng biết chúng muốn gì. Mặc dù mẹ dặn là tránh xa chúng nó ra nhưng đã vài lần, tôi không thể kìm được cơn giận dữ, lao vào đánh đấm chúng túi bụi. Đương nhiên là rồi bị chúng tẩn cho ra trò. Tôi về mách mẹ. Mẹ ôm tôi vào lòng vuốt ve, an ủi, nhưng rốt cuộc thì cả hai mẹ con cùng khóc.

Đọc tiếp  TÌM HIỂU VỀ THỂ LOẠI TRUYỆN CƯỜI

Một hôm, tình trạng ấy lại tái diễn. Tôi nổi giận, vừa túm tóc tên nhóc vừa giơ chân đá. Tôi còn nhào đến, dữ tợn cắn vào má tên nhóc một phát, mở màn trận đấm đá tay đôi ác liệt, giữa đám giặc con đứng vòng ngoài vỗ tay reo hò. Tàn cuộc, tôi u đầu sứt trán, tay chân quần áo đầy đất cát. Một thằng lõi còn quát tôi:

– Về mách với cha mày đi!

Tim tôi đau nhói. Chúng nó đông hơn, chỉ lấy thịt đè người cũng đủ chết, và tôi chẳng thể mở mồm biện minh được gì. Thật sự tôi chẳng có cha. Tôi nghẹn ngào, nhưng vì niềm kiêu hãnh, tôi cắn răng không khóc trước mặt lũ ranh. Tôi cố nén dòng nước mắt đang trào lên, nhưng niềm tức tưởi òa thành tiếng nấc không ngừng. Lũ ranh vỡ trận cười thoả thích. Chúng tay nắm tay nhau, reo hò nhảy múa quanh tôi bằng điệp khúc, “Con không cha! Ê hê con không cha”. Tôi buồn bã bỏ học, lang thang ra bờ sông vắng. Nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy, bỗng dưng tôi muôn chết… Tôi muốn dìm mình xuống sông vì không có cha. Tôi tuyệt vọng, chạm chân vào nước, đăm chiêu nhìn dòng sông lững lò trôi. Vài con cá nhảy lên mặt nước xanh để đớp ruồi. Tôi nín khóc, thích thú nhìn cảnh ngộ nghĩnh đang diễn trước mắt. Tuy nhiên, giữa lúc giông bão trong lòng tôi tạm lắng, như ngọn gió thình lình táp mạnh vào thân cây rồi ào đi, nó lại nghe niềm đau cào cấu. “Tôi muốn buông mình cho chết vì làm con không cha”. Tôi định nhảy ùm xuống, mặc cho dòng nước cuốn trôi đến đâu thì đến, chết lại càng hay! Lũ trẻ sẽ chẳng còn trêu chọc tôi được nữa và nỗi khổ tâm của tôi sẽ hoàn toàn chấm dứt. Tôi chìm ngập trong cảm xúc đau thương. Gối đầu lên đôi bàn tay, tôi nằm ngửa nhìn trời. Trên cao là bầu tròi xanh cao vòi vợi. Những đám mây đủ mọi hình thù lãng đãng trôi. Ô kìa! Rõ ràng ba đám mây trắng ở sát ben nhau trông giông bố mẹ cùng dắt tay đứa con thơ. Tôi chợt bật khóc nức nở và gọi thật to: “Bố ơi! Bố ở đâu? Sao bố không về với con?”. Không một lời đáp lại.  Chỉ có tiếng gió thổi xào xạc trong đám sậy ven sông. Tôi úp mặt xuống cỏ ướt, dần dần tỉnh lại. Rồi tôi nghĩ đến mẹ, Mẹ Blăng-sốt yêu quý của tôi! Nếu tôi không về nhà đúng giờ, mẹ sẽ lo lắng, sốt ruột biết chừng nào! Nếu tôi chết, chắc mẹ sẽ khóc hết nước mắt, có khi mẹ cũng sẽ chết theo tôi.

Trồi thật ấm. ánh hồng trải mình trên cỏ, và dòng nước trong như gương. Tôi tận hưởng giây phút êm ả, đoạn mệt nhoài buông mình mơ màng trên thảm cỏ. Có con nhái xanh từ đâu nhảy dưới chân tôi. Tôi chồm người chụp lấy, nhưng con nhái vụt mất. Tôi rượt theo đến lần thứ tư mới bắt được. Nhìn con nhái cố sức ngọ nguậy trên tay nó để trốn thoát, tôi bật cười. Con nhái dồn sức xuống đôi chân sau, cố bật mạnh lên như chàng lực sĩ đang cử tạ. Tròng mở to như muôn lọt khỏi vòng mắt màu vàng viền bèn ngoài, và hai chân trước chòi đạp như thể hai tay đang quơ ra cầu cứu. Hình ảnh ấy khiến tôi nhớ món đồ chơi của mình. Món đồ chơi được ghép bằng những mảnh gỗ nhỏ đóng từng đoạn chồng lên nhau. Trên ấy là hàng lính tí hon, thao tác tùy theo mảnh gỗ chuyển động. Nghĩ đến đây, tôi nhỏ nhà, nhớ mẹ, và tủi thân bật khóc. Tay chân tôi run rẩy, tôi buông người quỳ xuống và cầu nguyện như hằng đêm trước khi đi ngủ. Chưa cầu nguyện xong, điều đau khổ lại trào dâng trong lòng khiến tôi òa khóc lớn. Bất ngờ, có bàn tay ai nặng trịch đặt lên vai nó. Theo đó là giọng nói trầm trầm:

– Bé con ơi, việc gì khiến con buồn đến thế…

Tôi quay lại. Một người thợ với hàm râu đen và mái tóc dợn từng sợi, đang chăm chú nhìn tôi. Tôi tức tưởi:

– Tụi nó đánh con vì con không có cha.

Người thợ mỉm cười:

–  Sao kỳ cục vậy… Ai cũng có cha mà con.

Tôi đau thắt người, trả lời.

–  Nhưng con không có.

Nghe câu nói, người thợ bôi rối và bảo tôi:

–  Nín khóc đi con. Chú sẽ dắt con về với mẹ. Mẹ con sẽ chỉ cho biết cha ở đâu.

Về đến trước căn nhà nhỏ xinh xắn. Tôi gọi to:

–  Mẹ ơi, mẹ!

–  Thưa cô, tôi gặp cháu đi lạc ngoài bến sông…

Tôi nhào ôm cổ mẹ, mếu máo.

–  Không phải mẹ ơi, con muốn nhảy xuống sông. Tại tụi nó đánh con… Tụi nó đánh con vì con không có cha.

Mặt mẹ tôi ửng đỏ, ôm vội con vào lòng mà nước mắt tuôn trên má. Tôi chạy đến chân chân người thợ nói:

–  Chú làm cha con được không…?

Ngột ngạt bao trùm, không ai nói một lòi. Tôi liền tuyên bố:

– Nếu chú không chịu làm cha của con, con sẽ nhảy xuống sông.

– Được chứ sao không, nhóc con.

Tôi làm quen.

– Chú tên gì để có ai hỏi thì con nói?

– Philip

Tôi ghi nhớ vô lòng và quả quyết nói với chú:

– Bây giờ chú là cha của con!

Còn gì hay hơn thế nữa?! Tôi sung sướng ôm ghì lấy cổ chú Phi-líp, dụi mặt vào bé ngực vạm vỡ của chú.

Ngày hôm sau đi học, lũ bạn lại xúm vào trêu chọc tôi. Thay vì uất ức hay giận dữ, tôi kiêu hãnh đáp: “Bô” tớ là thợ rèn Phi-líp!”. Lũ bạn nhao nhao: “Không đúng! Không đúng! Mày phải có một ông bố đàng hoàng như chúng tao cơ!”. Tôi không hiểu thế nào là một ông bố đàng hoàng nên đành nín nhịn, chờ tan buổi học. Lúc đi ngang qua lò rèn, tôi rẽ vào gặp bố Phi-líp của tôi, kể mọi chuyện cho bè nghe. Tôi thấy vẻ mặt bố trầm ngâm hẳn. Bố lẩm bẩm: “Thôi được! Thôi được! Con hãy về nhà đi! Con sẽ có bố, ông bố thực sự, ông bố đàng hoàng của con!”.

Sau đó, một điều tuyệt vời xảy ra: bố Phi-líp đến gặp mẹ tôi, ngỏ lời cầu hôn với mẹ Blăng-sốt của tôi. Bố bảo tôi cần có bố thật sự, cần người bảo vệ. Bố Phi-líp đã đem lại cơ hội cho mẹ tôi được làm vợ một người đàn ông tử tế. Khỏi phải nói tôi vui mừng đến chừng nào! Thế là từ nay, không đứa nào dám ức hiếp tôi nữa. Bố Phi-líp mạnh mẽ và tốt bụng sẽ là chỗ dựa chắc chắn cho cuộc đời tôi. Mẹ tôi ngạc nhiên lắm, cứ hết nhìn tôi lại nhìn Phi-líp. Rồi mẹ lấy chiếc khăn choàng trên vai, lau nước mắt.

Đọc tiếp  TỔNG HỢP CÁC BÀI VĂN MẪU HAY NHẤT VỀ TÁC PHẨM TAM ĐẠI CON GÀ

Bố Phi-líp đã đến ở hẳn với hai mẹ con tôi. Tôi rất thích đi dạo dọc bò sông mỗi chiều để tôi âu yếm nói: “Bố Phi-líp của con! Con yêu bố lắm!”

 

Đề 3: Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng Thủy đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó.

Bài làm

Những tưởng câu chuyện An Dương Vương, Mị Châu – Trọng Thủy đã khép lại sau kết cục đầy bi thương, Mị Châu bị vua cha chém chết để giải mối nợ nước, thù nhà; còn Trọng Thủy vì ân hận, xót xa trước cái chết của Mị Nương, trước sự dằn vặt của lương tâm nên cũng tìm đường quyên sinh nơi giếng nước mà Mị Châu thường tắm khi còn sống. Nhưng nhờ trời thương xót cho mối nghịch duyên của đôi vợ chồng còn chưa giải nên sau khi chết, Mị Châu được vua Thủy Tề nhận làm con gái nuôi, còn Trọng Thủy sau nhiều ngày lang thang vất vưởng chốn thủy cung xa lạ, cuối cùng cũng tìm thấy Mị Châu.

Lại kể đến việc Trọng Thủy lạc xuống Thủy cung, vốn dĩ sau khi chết Trọng Thủy phải xuống âm phủ, trên đường sẽ có một người phụ nữ là Mạnh Bà tặng cho một chén canh để quên hết việc kiếp này rồi thuận lợi vào vòng luân hồi đầu thai sang kiếp khác. Nhưng trước khi chết, Trọng Thủy vẫn ôm một mối ân hận, đó là món nợ của chàng dành cho Mị Châu, nên chàng đã từ chối uống canh, muốn được làm một cô hồn để tìm kiếm Mị Châu nhằm xin nàng tha thứ. Mạnh Bà nghe Trọng Thủy giãi bày nỗi đớn đau trong lòng nên chỉ biết thở dài, ai oán:

– Thương thay cho kiếp người mệnh khổ, hai người ai cũng ôm một nỗi hận riêng, người nào cũng từ chối bát canh này. Nhưng mấy ai hiểu rằng, được quên đi là một đặc ân lớn nhất mà trời cao ban tặng, nếu đã không muốn nhận ta cũng chẳng ép làm gì. Chỉ muốn nói với ngươi một điều, nàng Mị Châu kia năm xưa ta cũng từng gặp, nàng ta bảo rằng, tội lỗi do nàng gây ra chết cũng chưa đền lại được, nên cam nguyện làm một cô hồn dã quỷ, mãi mãi phải dằn vặt ghi nhớ những tội nghiệt mình gây ra làm sự trừng phạt. u cũng thật cứng cỏi và tội nghiệp. Nhà ngươi nếu đã thấy mình mắc sai lầm tày đình, thì liệu mà tìm xin nàng tha tội, nàng ở Thủy cung Đông Hải.

Nói rồi Mạnh Bà đột nhiên biến mất, chỉ để lại một rừng hoa Bỉ Ngạn, đỏ rực. Trọng Thủy đau đớn, ngã khuỵu, chỉ biết thều thào cảm tạ Mạnh Bà, rồi lên đường tìm kiếm hồn Mị Châu. Sau nhiều năm lang bạt, bôn ba, Trọng Thủy cũng tìm được đến bờ Đông Hải, xuống tới Thủy cung, Trọng Thủy cũng phải thấy choáng ngợp vì cảnh sắc tráng lệ và rực rỡ. Vốn là dòng dõi vương giả nhưng cả đời chàng cũng chưa từng thấy kiểu trang trí xa hoa thế này bao giờ, cung điện chẳng phải xây từ ngói gạch, mà trông như những hang động rộng lớn, hoa văn chạm khắc tinh xảo trên những vách đá trắng ngà. Ở sâu dưới mặt nước, lại thiếu ánh sáng mặt trời nhưng lòng cung lúc nào cũng sáng rực, tất cả là nhờ hằng hà sa số các viên minh châu được đặt để khắp nơi, trên vách tường, dưới mặt đất. Xung quanh chỗ nào cũng thấy các dải san hô xếp san sát, muôn hình vạn trạng chẳng từ ngữ nào có thể diễn tả được quang cảnh mà Trọng Thủy nhìn thấy khi ấy. Đang ngơ ngẩn, thì Trọng Thủy bị thủy quân bắt được, cho rằng chàng có ý đồ bất chính, họ dẫn chàng đến trước mặt vua Thủy Tề.

Đúng lúc, Thủy cung đang tổ chức tiệc sinh nhật cho công chúa, Long Vương thấy có kẻ lạ đột nhập thì không vui, nổi giận:

– Người này ở đâu ra, làm mất hết nhã hứng của bổn vương và công chúa, thật không ra thể thống gì!

Người dẫn đầu trong đám cận vệ, quỳ tâu:

– Dạ bẩm bệ hạ, chúng thần đi tuần quanh thì bắt được tên này đang ngó nghiêng, bộ dáng hết sức khả nghi, mà tra hỏi thì hắn cái gì cũng không biết, nên đưa đến đây để người quyết định ạ.

– Cho ngươi lui, người đang quỳ kia ngẩng đầu lên cho bổn vương xem.

Trọng Thủy lặng lẽ ngẩng đầu lên, đối diện với Long vương, bỗng nhiên có tiếng chén rơi vỡ phát ra “choang”. Long Vương quay sang nhìn, thì thấy công chúa thần sắc tức giận, mắt ngấn nước, hai tay nắm chặt vạt áo, run run. Long Vương thấy thế càng thêm nghi ngờ, gặng hỏi:

– Ngươi từ đâu tới đây, có ý đồ gì, nếu không muốn mất mạng thì nhanh khai rõ sự tình.

Trọng Thủy bình tĩnh thưa:

– Thảo dân vốn là con trai Triệu Đà, vua nước Triệu, vì một số nguyên nhân mà sau khi chết đi, muốn xuống đây tìm một người con gái tên là Mị Châu để thỉnh tội, kính xin ngài lượng thứ vì đã không mời mà đến, phá hỏng buổi tiệc.

Long Vương, bất ngờ quay sang công chúa, hỏi:

– Mị Châu, con và hắn có quen biết chăng, sao hắn lại mạo muội đến tận đây tìm?

Lúc này nàng công chúa mắt ngọc mày ngài, mới lặng lẽ lau nước mắt, đáp:

– Thưa phụ vương, hắn là người khi xưa con còn tại thế có một mối ân oán sâu nặng, kính xin phụ vương cho con gặp riêng hắn để giải quyết nốt mối nghiệt duyên còn vương vấn chưa giải. Rồi con sẽ thưa lại hết tất cả sự tình cho người!

– Được rồi, con lui xuống đi, cứ từ từ nói chuyện đừng để tổn hại sức khỏe, con mới ốm dậy không lâu. Nếu hắn có gì bất kính với con ta sẽ trị tội hắn thích đáng.

Sau nhiều ngày đi tìm Mị Châu không thấy, cho tới một hôm tại thành cổ loa xưa bên cạnh giếng ngọc Trọng Thủy đã tìm thấy xác vợ mình bị vua An Dương Vương chém chết. Quá đau lòng trước cái chết của vợ mình Trọng Thủy nhảy xuống giếng tự vẫn.

Sau khi chết, Trọng Thủy lạc xuống thủy cung, một nơi nguy nga tráng lệ, có rất nhiều ngọc trai châu báu. Nơi phản chiếu cung điện hình bảy sắc cầu vồng vô cùng đẹp mắt. Trọng Thủy nghe đâu đây tiếng của những nàng tiên cá đang múa hát tưng bừng vui vẻ.

Trong khi tâm trạng đang buồn chán, ngơ ngẩn tìm đường ra thì Trọng Thủy nhìn thấy một người con gái ngồi trong phòng riêng, xung quanh có rất nhiều người hầu kẻ hạ. Cô gái vô cùng kiều diễm được mặc quần áo lóng lánh vàng với trên người đeo nhiều ngọc trai châu báu lấp lánh, làm cho vẻ kiêu sa kiều diễm của nàng càng thêm hấp dâm.

Đọc tiếp  SOẠN VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 2 SIÊU NGẮN

Dù trong lòng rất buồn nhưng trước vẻ đẹp của một người con gái kiêu sa kia tôi không thể kìm lòng mà nhìn lâu hơn một chút.

Khi nàng quay hắn mặt ra hướng nơi tôi núp mình ẩn náu thì tôi phát hiện ra cô gái kia chính là Mị Châu vợ của mình. Nàng đang ngồi trước bàn phấn trang điểm lại khuôn mặt vốn rất kiều diễm rồi sau đó nàng thay xiêm y, lên một chiếc kiệu vô cùng tráng lệ. Quá tò mò nên tôi tìm cách đi theo nàng

Tôi thấy nàng đi dự yến tiệc với vua Thủy Tề, bữa tiệc vô cùng thịnh soạn, một bàn đầy thức ăn toàn những thứ cao lương mỹ vị mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy. Ăn xong nàng lại lên kiệu trở về khi người hầu đã đi ra hết chỉ còn lại mình nàng trong phòng riêng thì tôi đột ngột xuất hiện, khiến cho Mị Châu thất thần hét lên vì giật mình.

Mấy nữ người hầu chạy vào hốt hoảng hỏi Mị Châu có sao không. Nhưng nàng đã định thần lại rồi đuổi họ ra ngoài.

Tôi gặp lại vợ vui mừng khôn tả toan chạy lại ôm nàng để thỏa những ngày nhớ nhung thương nhớ. Nhưng Mị Châu né người tránh cái ôm của tôi. Nàng nhìn tôi giọng khinh miệt hỏi

– Chàng làm gì ở đây? Chàng còn định gặp ta để lợi dụng tiếp à? Ta giờ không còn giá trị để chàng lợi dụng nữa đâu.

Những câu nói của Mị Châu làm tôi đau thấu tim gan. Tôi nhìn nàng rưng rưng nói “Ta biết ta sai khi lừa dối nàng, khi lợi dụng nàng để chiếm lấy nỏ thần cho cha mình. Nhưng tình cảm vợ chồng tình yêu ta dành cho nàng là hoàn toàn chân thật. Chính vì yêu nên ta đã tự kết liễu đời mình để gặp nàng hôm nay?

Mị Châu nhìn tôi ánh mắt sắc lạnh đầy căm hờn nói “Ta không tin chàng nữa. Chàng hãy mau ra khỏi đây nếu không ta sẽ kêu người lôi cổ chàng đi”

Nhìn thái độ cương quyết của Mị Châu tôi hiểu rằng nàng vẫn còn giận tôi nhiều lắm. Nàng chưa thể tha thứ cho tôi trong một sớm một chiều được, bởi chính tôi là nguyên nhân làm cho cha nàng mất nước đưa nàng tới cái chết. Tôi không đáng được tha thứ.

Nên tôi đi ra ngoài, những ngày sau đó tôi xin làm người hầu của vua Thủy Tề để được gần gũi vợ mình nhiều hơn. Mỗi ngày tôi đều nhìn thấy nàng nhưng không dám lại gần chỉ cần nàng khỏe mạnh tinh thần vui vẻ là tôi vui rồi. Tôi âm thầm quan sát và bảo vệ nàng từ xa.

Cho tới một hôm vua Thủy Tề tổ chức một cuộc đi săn, trong đó các thủ lĩnh đều phải tham gia. Trong buổi đi săn này Mị Châu được vua Thủy Tề mời tới tham dự yến tiệc, hưởng những thành quả mà thợ săn mang về. Bởi từ sau khi chết Mị Châu đã được vua Thủy Tề nhận là nghĩa nữ và phong cho nàng chức “Châu nhi công chúa”

Vua Thủy Tề một mực yêu thương trân trọng nàng bởi xưa này nhà vua không sinh hạ được con gái mà chỉ có toàn là con trai. Niềm ao ước có một cô công chúa đã thành hiện thực nên vua Thủy Tề vui lắm.

Trong buổi yến tiệc đó có tổ chức màn thi bắn cung bịt mắt, để cái quan võ có dịp thi tài với nhau. Trong lúc thi thố tài năng, một mũi tên không may trượt khỏi tầm ngắm của người thi bắn về phía chỗ ngồi của Mị Châu tôi lo lắng nàng sẽ bị thương nên vội vàng đưa thân mình ra đỡ.

 

Đề 4: Kể lại một kỉ niệm sâu sắc của anh/chị về tình cảm gia đình hoặc tình bạn, tình thầy trò theo ngôi kể thứ nhất.

Bài làm

Chiều, tan học, tôi lại rảo bước trên con đường quen, nơi mà trước đây tôi và An – một người bạn thân thiết thuở nhỏ của tôi có bao nhiêu là kỉ niệm, vui có, buồn có. Nhưng có lẽ kỉ niệm về ngày An dạy tôi chạy xe đạp làm tôi nhớ mãi…

Ngày ấy, An sống cùng bà ngoại ở cạnh nhà tôi, bởi An là con gái nên chúng tôi cũng dễ dàng trở nên thân thiết với nhau. An là một cô bé rất đáng yêu, hay cười và hơn tôi rất nhiều điều khác. An có một làn da nâu với mái tóc ngắn so le khiến cô bé trở nên mạnh mẽ. Tôi yêu mến An ở sự mạnh mẽ – An chưa lần nào khóc!

Sáng nào cũng thế, An đều qua nhà tôi và rước tôi đi học. Không phải nhà tôi không có xe mà chỉ vì tôi không biết chạy xe đạp. Cứ như thế mà An chở tôi mấy năm liền. Cho đến những ngày cuối cấp 1, đó là ngày cuối tuần, tôi đứng trông mãi mà không thấy An đến. Thế là tôi bèn đi qua nhà An xem cô nàng có ngủ quên hay không. Đến nhà thì bà ngoại An bảo rằng An đã đi học rồi. Tôi bắt đầu thấy nóng rơ trong người. Và tôi đi bộ đến trường với sự giận dữ. Có lẽ lúc nhỏ tôi là cô bé được chiều chuộng nên tôi hay tỏ ra khó chịu khi có việc không vừa ý mình. Giờ nghĩ lại thấy mình thật quá đáng!!

Đến lớp, tôi tiến về An liền:

– An! Sao hồi sáng An không rước Chi? Để Chi đi bộ đau chân rồi nè!!

An vẫn điềm nhiên và nói với vẻ nghiêm khắc:

– Sau này An sẽ không chở Chi đi nữa đâu! Chi lớn rồi chứ còn bé gì đâu. Sáng mai An sẽ chỉ cho Chi chạy xe đạp!

An nói bấy nhiêu rồi đi ra ngoài, tôi cũng chả nói được điều gì. Sáng hôm sau, An bắt đầu tập cho tôi chạy xe. Tôi rất nhát nên khi leo lên xe, đạp được hai, ba vòng đã ngã. Cứ như thế, tôi không chịu được nữa, tôi bắt đầu khóc.

– Chi không tập nữa đâu, té đau lắm!!

– Té đau thì cứ khóc, khóc xong phải đứng lên mà tiếp tục. Nếu không sẽ thất bại mãi đấy.

Câu nói lúc này của An khiến tôi có thêm động lực, tôi bắt đầu luyện chạy xe đạp nhiều hơn… Và rồi tôi đã thành công. Hôm ấy tôi sang nhà An để khoe kết quả của mình. Thế nhưng, tôi đã rất bất ngờ khi biết rằng ba mẹ An đã rước An ra Hà Nội. Tôi như không tin vào sự thật nữa. Và đến bấy giờ tôi mới hiểu được câu nói của An ” sẽ không chở Chi đi học nữa “… Tôi đứng lặng, nước mắt bỗng rơi.

Ngày hôm nay, tuy mỗi đứa đã mỗi nơi, nhưng tôi vẫn không sao quên được hình bóng của An. Tuy đó chỉ là một kỷ niệm nhỏ nhưng nó sẽ mãi mãi là một kỉ niệm – một kinh nghiệm sống trong đời tôi: “Té đau thì cứ khóc, khóc xong phải đứng lên mà tiếp tục”. Giờ này nơi đâu đó, chắc An cũng đang nghĩ về tôi.